BÀI KỲ 1:
LÒNG DÂN - CỘI NGUỒN VÀ THƯỚC ĐO CỦA MỌI QUYẾT SÁCH CHIẾN LƯỢC
Lý luận sẽ mãi là giáo điều nếu không thẩm thấu được nhịp đập của thực tiễn; chính sách sẽ trở thành lực cản nếu thoát ly khỏi khát vọng của nhân dân. Việc hoạch định đường lối chưa bao giờ là một phép toán hành chính đơn thuần, mà là quá trình chắt lọc tinh hoa từ trí tuệ và nguyện vọng của toàn dân. Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Dân là gốc”: Thước đo cao nhất của mọi quyết sách… Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu là động lực và là nguồn lực của phát triển”.(Trích dẫn: Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.38.)
Mạch ngầm xuyên suốt lịch sử và thời đại
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một bản anh hùng ca được viết nên bởi sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân. Trong sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, những thời khắc mang tính bước ngoặt lịch sử, những quyết sách tháo gỡ được các “điểm nghẽn” thời đại đều xuất phát từ việc Đảng ta biết lắng nghe, thấu hiểu và phát huy cao độ sức mạnh từ “cội nguồn Nhân dân”.
Bài học “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc” của tiền nhân qua hàng ngàn năm lịch sử không hề cũ đi, mà trái lại, đã được Đảng ta kế thừa và nâng tầm bởi thế giới quan, phương pháp luận Mác-xít. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định một chân lý vĩ đại: Quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử. Sức mạnh của một thể chế không đo lường bằng sức mạnh của vũ lực hay sự áp đặt từ trên xuống, mà được quyết định bởi mức độ bám rễ sâu bền vào lòng dân, khơi dậy được ý chí tự lực, tự cường của toàn dân tộc.
Một quyết sách vĩ mô mang tầm chiến lược không bao giờ tự nhiên sinh ra từ ý muốn chủ quan, tư duy tư biện của những nhà hoạch định chính sách trong phòng họp. Đó phải là kết quả của một quá trình đúc kết sắc bén từ thực tiễn lao động sản xuất, từ thực tiễn chiến đấu và từ những khát vọng vươn lên mãnh liệt của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tồn tại và phát triển không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc.
Chính từ sự đồng nhất về mặt lợi ích đó, sự hình thành các quyết sách của Đảng thực chất là quá trình thể chế hóa, hệ thống hóa và nâng tầm những tư tưởng, nguyện vọng chính đáng của nhân dân lên thành định hướng chiến lược quốc gia. Sự giao thoa biện chứng này tạo ra một phản ứng dây chuyền vĩ đại: Khi một quyết sách phản ánh đúng cội nguồn khát vọng của dân tộc, đáp ứng đúng “điểm trúng” của thời đại, nó sẽ lập tức thẩm thấu vào quần chúng, biến thành một sức mạnh vật chất to lớn, vô địch, đủ sức dời non lấp biển, kiến tạo nên những kỳ tích.
Nhìn lại tiến trình cách mạng Việt Nam, thực tiễn đã nhiều lần chứng minh một quy luật sắt đá: Sự giao thoa giữa “Ý Đảng” và “Lòng Dân” luôn tạo ra sức mạnh vô địch. Từ những định hướng chiến lược trong khói lửa chiến tranh vệ quốc đến đường lối đổi mới “xé rào” đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, mọi quyết sách tháo gỡ thành công những “điểm nghẽn” lịch sử đều có chung một điểm xuất phát, đó là lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, với quan điểm “Dân là gốc”. Đại hội XIV xủa Đảng đã tổng kết 40 năm đổi mới, rút ra 5 bài học kinh nghiệm, trong đó khẳng định: “Quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc”. Phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân. Tăng cường củng cố và phát huy hiệu quả sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.
Việc tận tâm, tận lực ban hành và thực thi chính sách vì dân còn là minh chứng đanh thép nhất cho bản chất ưu việt của chế độ. Khi quyền lợi của nhân dân được đặt lên vị trí thượng tôn, niềm tin chính trị của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng ngày càng được củng cố vững chắc. Đó chính là lớp khiên bảo vệ kiên cố nhất, xây dựng nên “thế trận lòng dân” vững như bàn thạch, làm thất bại mọi âm mưu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Bất kỳ một chủ trương, đường lối nào đi ngược lại với lợi ích chính đáng của quần chúng, mang tính áp đặt chủ quan, quan liêu, giáo điều thì đều vi phạm quy luật khách quan. Những chính sách ấy, dù được bao bọc bởi những ngôn từ hoa mỹ đến đâu, sớm muộn cũng sẽ bị chính thực tiễn khắc nghiệt đào thải. Lòng dân, do đó, vừa là điểm xuất phát, vừa là thước đo chân lý cao nhất, chính xác nhất để kiểm chứng tính đúng đắn và sức sống của mọi đường lối.
Sức sống thực tiễn và nguy cơ "đứt gãy cội nguồn"
Thực tiễn những năm qua, có thể khẳng định khách quan rằng: Nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng và bộ máy nhà nước về vai trò “cội nguồn” của nhân dân trong hoạch định chính sách đã có bước chuyển biến sâu sắc. Nhiều chủ trương lớn của Đảng, các đạo luật quan trọng của Nhà nước (điển hình như các chính sách phục hồi kinh tế hậu đại dịch, chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi số, hay quyết tâm không có vùng cấm trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực…) đã đi trúng vào những vấn đề bức thiết nhất của đời sống. Những quyết sách này không lơ lửng trên giấy mà bám sát thực tiễn cuộc sống của người dân, thể hiện rõ tư duy “lấy dân làm gốc”, đặt lợi ích hợp pháp của người dân lên vị trí thượng tôn.
Trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, có một chi tiết thể hiện rất rõ quan điểm của Đảng về “Dân là gốc”, đó là cụm từ “Nhân dân” được sử dụng tới 456 lượt. Con số thống kê ấy tuyệt đối không phải là sự lặp lại thuần túy về mặt ngôn từ, mà là một bản tuyên ngôn chính trị đanh thép của một Đảng cầm quyền. Nó tái khẳng định một chân lý bất di bất dịch của Chủ nghĩa Mác - Lênin: Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử. Hơn thế nữa, sự hiện diện đậm nét của cụm từ "Nhân dân" trong văn kiện cao nhất của Đảng phát đi một thông điệp chiến lược: Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, trục tọa độ định vị sự lãnh đạo của Đảng không bao giờ thay đổi. Mọi quyết sách vĩ mô, mọi đột phá về thể chế, kinh tế số hay quốc phòng, an ninh sẽ chỉ là những bản phác thảo vô hồn nếu không xuất phát từ khát vọng của Nhân dân. Một quyết sách chỉ thực sự mang tính mở đường khi nó bám sát nhịp đập của thực tiễn, lấy lợi ích chính đáng của quần chúng làm lăng kính quy chiếu và bệ phóng kiến tạo.
Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực tiễn hiện nay, chúng ta không khỏi trăn trở trước hiện tượng “đứt gãy cội nguồn” đang hiện hữu. Đó là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; là căn bệnh quan liêu, hách dịch, cửa quyền, xa rời quần chúng. Hệ lụy trực tiếp của lực cản này là việc tham mưu, ban hành ra những quy định hành chính xơ cứng, những chính sách “trên trời”, thiếu tính khả thi, đi ngược lại quy luật cung cầu và lợi ích của người dân, gây ra sự bức xúc, hoài nghi trong dư luận xã hội.
Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, sự “đứt gãy” giữa chính sách và thực tiễn không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên. Nguyên nhân sâu xa nhất bắt đầu từ sự phai nhạt mục tiêu, lý tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Họ bị đứt liên lạc với đời sống của người dân do lười nghiên cứu thực tiễn, ngại cọ xát với nhân dân. Thay vì đi sâu, đi sát cơ sở để nghe dân nói, thấy dân làm, họ lại mắc bệnh “ngồi phòng lạnh làm chính sách”, dùng tư duy chủ quan, tư biện để dự phóng tương lai. Sự thoát ly khỏi thực tiễn này đã đẻ ra những quy định hành chính xơ cứng, những đạo luật “trên trời” hoàn toàn xa lạ với quy luật vận động khách quan của đời sống, tự tay cắt đứt mạch nối thiêng liêng với cội nguồn nhân dân. Bên cạnh đó, nguyên nhân là do một số cơ quan chủ trì soạn thảo thiếu sự cầu thị; việc tổ chức lấy ý kiến chỉ mang tính “chiếu lệ” nhằm hợp thức hóa quy trình. Tiếng nói phản biện của Mặt trận Tổ quốc, của các nhà khoa học và tâm tư của quần chúng không được bóc tách, đánh giá và tiếp thu một cách thực chất. Tình trạng “dân có bàn nhưng cơ quan quản lý không tiếp thu”, bảo thủ giữ nguyên ý kiến chủ quan đã tước đi cơ hội để nhân dân thực sự trở thành người đồng kiến tạo chính sách.
Sự “đứt gãy mạch nguồn” không thể tự lành lại bằng những lời kêu gọi suông. Mổ xẻ tận gốc những nguyên nhân trên là tiền đề sống còn để xác lập các giải pháp phẫu thuật triệt để. Phải bịt kín những lỗ hổng thể chế, kiên quyết dùng kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật để thanh lọc đội ngũ và trên hết, phải thiết lập một hành lang pháp lý vững chắc buộc mọi quyết sách phải đặt dưới lăng kính giám sát tối cao của nhân dân.
Thực tiễn là một dòng chảy không ngừng. Đứng trước những biến động phức tạp, khó lường của kỷ nguyên hội nhập và kỷ nguyên số, nếu không bám rễ sâu vào cội nguồn nhân dân, mọi nghị quyết, đạo luật, dù được thiết kế công phu đến đâu, cũng chỉ là những “bản vẽ vô hồn” nằm yên trên mặt giấy. Lòng dân chính là la bàn định vị tối thượng để các quyết sách của Đảng và Nhà nước không bao giờ đi chệch hướng. Nhận thức đúng cội nguồn là tiền đề tất yếu, nhưng để mạch ngầm ấy thực sự tạo ra sức bật phát triển, chúng ta cần một hệ thống giải pháp đồng bộ và quyết liệt trong khâu tổ chức thực hiện.
Hoàng Minh Cảnh.
Cán bộ, Công an xã Thắng Mố, tỉnh Tuyên Quang.