(Trích nguồn: Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.39.)
Nhân dân là chủ thể phản biện và hiện thực hóa quyết sách
Quá trình vận động của một quyết sách không kết thúc ở thời điểm văn bản được ban hành, mà thực chất, đó mới chỉ là điểm khởi đầu cho một chu trình biện chứng khắt khe hơn: Chu trình đưa nghị quyết vào đời sống. Trong không gian thực tiễn ấy, nếu tổ chức Đảng là người cầm lái, thì quần chúng nhân dân chính là động cơ vĩ đại nhất. Nhân dân không hiện diện với tư cách là những “đối tượng quản lý” hay người “thụ hưởng thụ động”, mà phải được định vị ở tầm vóc cốt lõi: Chủ thể trực tiếp phản biện và hiện thực hóa đường lối. Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định: “Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp và hạnh phúc của Nhân dân; thực sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” .
(Trích nguồn: Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.237, 238.)
Để các quyết sách thực sự bám rễ sâu bền vào mảnh đất đời sống, nguyên tắc tối thượng là phải thực hiện triệt để, toàn diện và thực chất phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đây không phải là những thành tố rời rạc, mà là một vòng tuần hoàn khép kín mang tính quy luật của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. “Biết” và “bàn” là bệ phóng để tập hợp trí tuệ quần chúng; “làm” là động lực chuyển hóa ý tưởng thành sức mạnh vật chất; “kiểm tra, giám sát” là thiết chế màng lọc để phát hiện, nắn chỉnh những sai lệch; và “thụ hưởng” là thước đo cuối cùng, là quả ngọt bảo chứng cho tính đúng đắn của chủ trương. Thiếu vắng hoặc làm hình thức bất kỳ một khâu nào trong chuỗi mắt xích này, quyết sách sẽ lập tức bị “treo”, mất đi lực đẩy nội sinh và rơi vào căn bệnh giáo điều.
Để nhân dân thực sự trở thành người đồng kiến tạo, phương châm đó bắt buộc phải được thể chế hóa thành hành lang pháp lý vững chắc, cụ thể hóa thành hệ thống quy chế dân chủ ở cơ sở minh bạch và có tính cưỡng chế thi hành cao. Sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định, phản biện và thực thi chính sách phải được xác lập bằng quyền lực pháp lý, được bảo đảm bằng sức mạnh của Nhà nước pháp quyền, chứ tuyệt đối không thể phụ thuộc vào thái độ chủ quan hay sự “ban phát” của bất kỳ cấp ủy, chính quyền hay cá nhân người đứng đầu nào. Việc lấy ý kiến nhân dân, việc giải trình trước nhân dân phải là một “nguyên tắc sắt” trong quy trình lập quy, lập pháp.
Chỉ khi quyền làm chủ được luật hóa, không gian phản biện xã hội được khơi thông thực chất, nhân dân mới có đủ công cụ sắc bén để chính thức tham gia vào dòng chảy chính trị của đất nước. Lăng kính phản biện của nhân dân, thông qua Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, chính là chiếc “máy quét” khách quan nhất, khắc nghiệt nhất để nhận diện, sàng lọc và kiên quyết bóc tách những mầm mống của “lợi ích cục bộ”, “tham nhũng chính sách” ẩn nấp trong các quy định. Suy cho cùng, trao quyền làm chủ thực chất cho nhân dân chính là cách tự bảo vệ vững chắc nhất của Đảng. Khi người dân được đặt vào đúng vị trí chủ thể, họ sẽ tự nguyện dấn thân, biến chủ trương của Đảng thành khát vọng tự thân, góp phần kiến tạo nên sức mạnh dời non lấp biển để đưa đất nước tự tin vươn mình.
Xây dựng “Thế trận lòng dân” - Đỉnh cao của nghệ thuật triển khai quyết sách
Khoa học quân sự hiện đại và truyền thống giữ nước của dân tộc đều thống nhất ở một định lý: Vũ khí tối tân nhất, thành lũy kiên cố nhất không nằm ở những khí tài quân sự vật chất, mà được xây đắp bằng khối đại đoàn kết toàn dân. “Thế trận lòng dân” không phải là một khái niệm trừu tượng, mà là trạng thái tâm lý - chính trị xã hội ổn định, nơi niềm tin của quần chúng nhân dân đối với chế độ đạt đến độ đồng thuận tuyệt đối. Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, trước hết là xây dựng niềm tin và sự đồng thuận của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới” .
([1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.72.)
Khi các quyết sách chiến lược của Đảng và Nhà nước - từ những đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội đến các chiến lược về quốc phòng, an ninh - thực sự giải quyết được bài toán dân sinh, đáp ứng đúng khát vọng và lợi ích chính đáng của quần chúng, nó sẽ tạo ra một lực hấp dẫn vĩ đại. Sự đồng thuận của nhân dân lúc này tự động chuyển hóa thành sức mạnh nội sinh khổng lồ. Đó chính là nền tảng cốt lõi để xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững chắc. Một khi mỗi người dân đều nhận thấy mảnh đất mình đang sống, chế độ mình đang gắn bó mang lại cho họ quyền làm chủ và sự ấm no, thì mỗi công dân sẽ tự nguyện trở thành một cột mốc sống, một chiến sĩ kiên trung bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Trong bối cảnh các thế lực thù địch không ngừng đẩy mạnh âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, chúng luôn tìm cách khoét sâu vào những khoảng trống giữa chính sách và thực tiễn để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết. Tuy nhiên, mọi mũi nhọn tấn công trên mặt trận tư tưởng - văn hóa đều sẽ bị bẻ gãy trước một “Thế trận lòng dân” kiên cố.
Khi một nghị quyết, một chủ trương thực sự thấm đẫm hơi thở của thực tiễn, giải quyết thỏa đáng hài hòa các quan hệ lợi ích, nó sẽ tự động hình thành một “màng lọc” vững chắc trong nhân dân. Lợi ích thiết thực mà quyết sách mang lại chính là kháng thể mạnh nhất để nhân dân tự đề kháng trước những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ.
Thay vì chỉ dựa vào các biện pháp đấu tranh hành chính hay tuyên truyền một chiều, chính nhân dân - những người trực tiếp thụ hưởng và thẩm định tính đúng đắn của đường lối - sẽ trở thành những chủ thể chủ động phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Họ dùng chính thực tiễn đổi thay của quê hương, đất nước và cuộc sống của chính gia đình mình để đập tan mọi sự chống phá. Lúc này, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không còn là nhiệm vụ chuyên trách của riêng các lực lượng nòng cốt, mà đã trở thành nhu cầu tự thân, là ý thức tự giác bảo vệ thành quả cách mạng của toàn dân tộc.
Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân
Nghị quyết, dù mang tầm vóc chiến lược vĩ đại đến đâu, cũng không thể tự thân thâm nhập vào đời sống nếu thiếu đi “trạm trung chuyển” mang tính quyết định: Đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để giữ vững cội nguồn và khơi thông mạch nguồn sức mạnh của nhân dân, yêu cầu mang tính nguyên tắc là phải thống nhất nhận thức, nâng cao trách nhiệm chính trị, từ đó tạo ra một cuộc cách mạng trong phương pháp và tác phong công tác của lực lượng tiên phong, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp cơ sở. Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Mỗi cán bộ, đảng viên trên cả nước… hãy tự hỏi: Việc này có lợi gì cho dân? Có làm cho dân tin hơn không? Có làm cuộc sống của Nhân dân tốt đẹp hơn, không có làm cho đất nước giàu mạnh hơn không? Nếu câu trả lời chưa rõ, phải tiếp tục hoàn thiện, bởi mọi quyết sách chỉ có ý nghĩa khi được Nhân dân đồng tình, ủng hộ và mang lại lợi ích thiết thực cho Nhân dân”.
(Trích nguồn: Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.39.)
Phương châm “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân” hoàn toàn không phải là một khẩu hiệu giáo huấn đạo đức mang tính hình thức. Đây là một hệ thống thao tác thực hành chính trị sắc bén, đòi hỏi người cán bộ phải tự phá vỡ “tháp ngà” quan liêu để hóa thân vào thực tiễn. “Trọng dân” và “gần xóa bỏ triệt để
Khoảng cách mệnh lệnh hành chính, thiết lập sự gắn kết máu thịt về mặt chính trị và tâm lý. “Hiểu dân” và “học dân” là sự khiêm tốn của người lãnh đạo trước quần chúng, dùng lăng kính của nhân dân để nhìn nhận, đánh giá những điểm nghẽn, những ách tắc đang cản trở sự phát triển. Và cốt lõi nhất, “có trách nhiệm với dân” đòi hỏi sự xả thân, dám đứng mũi chịu sào, lấy ấm no và sự hài lòng của quần chúng làm mục tiêu tối thượng cho mọi quyết định hành chính.
Thực tiễn luôn vận động với muôn vàn vướng mắc và rào cản. Để đưa quyết sách bám rễ vào đời sống, người cán bộ không thể mượn danh “sâu sát” bằng những chuyến đi cơ sở “cưỡi ngựa xem hoa”. Việc tháo gỡ các điểm nghẽn cho nhân dân đòi hỏi một sự dấn thân quyết liệt, được dẫn dắt bởi một nguyên tắc hành động đanh thép:
Làm đúng: Kiên định lập trường, giữ vững nguyên tắc tổ chức, tuân thủ tuyệt đối đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Không bóp méo chủ trương để phục vụ lợi ích cục bộ, không mượn danh “linh hoạt” để vượt rào, làm trái quy định. Làm thật: Tuyên chiến với căn bệnh hình thức, phô trương, “báo cáo ảo”. Mọi nỗ lực tổ chức thực hiện phải mang lại giá trị vật chất và tinh thần đo lường được cho đời sống nhân dân.
Làm nhiều: Đề cao cường độ cống hiến, tinh thần trách nhiệm không quản ngại khó khăn, gian khổ. Cán bộ tiên phong phải là người có mặt ở những điểm nóng, những khâu yếu, việc khó nhất. Làm đến cùng: Đây là thước đo bản lĩnh và sức chiến đấu. Đối mặt với những lực cản từ rào cản cơ chế hay sự phản kháng của các nhóm lợi ích, người cán bộ không được phép chùn bước, đùn đẩy trách nhiệm hay “đánh trống bỏ dùi”. Phải quyết liệt theo đuổi mục tiêu, giải quyết dứt điểm những khiếu nại, bức xúc của nhân dân.
Năng lực của đội ngũ cán bộ không chỉ được đong đếm bằng những văn bằng, chứng chỉ hay những báo cáo tổng kết tròn trịa. Thái độ phục vụ nhân dân - thể hiện qua tinh thần dấn thân và kết quả tổ chức thực thi quyết sách chính là tiêu chí cao nhất, là trọng số quyết định để đánh giá năng lực, phẩm chất và uy tín của mỗi cán bộ, đảng viên. Một cán bộ vô cảm trước nỗi đau của dân, bàng quan trước ách tắc của cơ sở là người đã tự tước bỏ tư cách tiên phong của mình. Ngược lại, khi lấy việc phục vụ nhân dân làm lẽ sống, lấy sự dấn thân làm phương thức tồn tại, người cán bộ sẽ quy tụ được sức mạnh tổng hợp từ khối đại đoàn kết, bảo đảm cho mọi đường lối, quyết sách của Đảng tỏa sáng và trường tồn trong kỷ nguyên mới.
Lịch sử cách mạng Việt Nam, qua những thử thách khắc nghiệt nhất của thời đại, đã, đang và sẽ tiếp tục minh chứng cho một chân lý khách quan không thể đảo ngược: Mọi thắng lợi vĩ đại nhất, mọi kỳ tích mang tính bước ngoặt của dân tộc đều được khơi nguồn từ khối sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân. Giữ vững cội nguồn trong việc hoạch định và thực thi đường lối chính là bảo đảm cao nhất cho năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Chỉ khi Đảng thực sự hòa chung một nhịp đập với nhân dân, buồn vui cùng những trăn trở của nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm lăng kính quy chiếu tối thượng, thì chủ trương của Đảng mới tự động chuyển hóa thành ý chí tự thân và hành động cách mạng của toàn dân. “Ý Đảng” quyện chặt vào “Lòng Dân”- chính là cội nguồn sức mạnh nội sinh vô tận, là bệ phóng vững chắc nhất để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tự tin vượt qua mọi rào cản, kiến tạo nên kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc./.
Hoàng Minh Cảnh
Cán bộ, Công an xã Thắng Mố, tỉnh Tuyên Quang